Highlight

Những điều thú vị khi dùng Trí tuệ nhân tạo của Viettel

Những người dùng Internet tại Việt Nam thường lấy “chị Google” ra để… giải trí. Khi “chị” đọc văn bản hay chỉ đường cho người tham gia gi...

Sunday, May 29, 2016

Hãng di động đua phát triển hệ sinh thái thông minh


Các thiết bị di động và dịch vụ có thể đồng bộ dữ liệu với nhau tạo nên hệ sinh thái hỗ trợ đắc lực cả người dùng cao cấp lẫn phân khúc phổ thông.
Theo ước tính của hãng nghiên cứu thị trường Gartner, chi tiêu cho điện thoại di động (bao gồm điện thoại phổ thông và smartphone) trên toàn cầu sẽ tăng 1,2% trong năm 2016. Số lượng smartphone tiêu thụ cũng tăng vọt, chiếm tỷ lệ 82% lượng điện thoại di động bán ra trong năm nay, tức tăng gần 7 lần so với 12% trong năm 2015. Bên cạnh đó, cấu hình smartphone ngày một nâng cấp với màn hình FHD, RAM 4GB, ROM 128GB, camera có thể đạt 41 megapixel. Một chiếc điện thoại giờ đây gần như có thể thay thế được máy tính trong nhiều hoạt động.
Tuy nhiên, giới chuyên gia nhận định, công nghệ di động đã phát triển gần đến cực điểm. Một vài năm tới, có thể cuộc đua về cấu hình sẽ không còn sức hút khi sự đột phá ngày một ít đi. Để chuẩn bị cho sự bão hòa này, các nhà phát triển di động buộc phải tìm ra những chiến lược kinh doanh mới với nhiều cơ hội mở rộng thị trường hơn. Một trong những chiến lược điển hình là xây dựng hệ sinh thái thông minh với điện thoại và các thiết bị số hóa khác.
Apple là thương hiệu đi đầu trong xu hướng này khi tạo nên văn hóa "quả táo cắn dở" bằng hàng loạt thiết bị và dịch vụ có thể đồng bộ dữ liệu với nhau dễ dàng từ điện thoại iPhone, máy tính bảng iPad, laptop Macbook cho đến chùm ứng dụng giải trí iTunes, iMovie, iPhoto, iMusic…
Samsung không kém cạnh, thể hiện rõ tham vọng tạo ra hệ sinh thái cao cấp trên nền tảng Android khi giới thiệu những sản phẩm ấn tượng như camera Gear 360, kính thực tế ảo Gear VR, smartwatch Gear S2… Những phụ kiện này sẽ hỗ trợ smartphone Samsung một cách tối ưu, mang đến trải nghiệm công nghệ thú vị cho người dùng của hãng.
Ở phân khúc thấp hơn, Xiaomi trong thời gian qua cũng tuyên bố gia nhập thị trường các sản phẩm gia dụng như nồi cơm điện, máy lọc không khí thông minh… Đây được coi như những phần tử vệ tinh của mạng thiết bị của hệ sinh thái thông minh trong tương lai. Chúng ta có thể tưởng tượng đến một ngày không xa, việc ngồi tại văn phòng, dùng smartphone điều khiển việc nấu nướng hay dọn dẹp tại nhà bất kỳ lúc nào chỉ trong vài thao tác.
hang-di-dong-dua-phat-trien-he-sinh-thai-thong-minh
Smartphone phổ thông Neffos C5 Series có cấu hình cao và kết nối 4G được coi là nền móng xây dựng hệ sinh thái thông minh của TP-Link.
Vừa qua, TP-Link cũng đặt chân vào thị trường điện thoại, gây bất ngờ lớn cho làng công nghệ, khi đây vốn là cái tên gắn liền với các thiết bị Wi-Fi. Sản phẩm mà thương hiệu này mang đến là dòng smartphone tầm trung Neffos C5 Series.
Chia sẻ về dự định với sản phẩm mới, đại diện TP-Link cho biết, mạng lưới thông minh mà các thương hiệu lớn đang tạo dựng chủ yếu bao gồm những thiết bị có công nghệ tuy hiện đại song lại rất đắt đỏ mà chỉ một số ít người dùng có thể chi trả được. Nhu cầu tham gia hệ sinh thái thông minh cao của phần đông khách hàng còn lại chưa nhận được sự quan tâm đủ lớn.
Chính vì thế, Neffos C5 Series - trung tâm của hệ sinh thái TP-Link, được thiết kế hướng tới những người dùng phổ thông. Các sản phẩm Neffos C5 và C5L có cấu hình đến RAM 2GB, ROM 16GB và vi xử lý 4 nhân, có kết nối 4G đang được bán với giá 1,9 triệu và 2,9 triệu đồng.
Ý tưởng xây dựng hệ sinh thái thông minh cho người dùng phổ thông của TP-Link thông qua Neffos C5 Series được xem là cách tiếp cận thông minh. Hiện nay, có đến 50% người Việt dùng các điện thoại giá rẻ chỉ có tính năng nghe gọi cơ bản. Cung cấp những chiếc điện thoại cấu hình mạnh, tính năng thông minh, và giá thành tốt sẽ là chìa khóa cho chiến thắng trong cuộc cạnh tranh ở phân khúc hạng trung.
"Mảng thị trường lớn này dường như vẫn đang bỏ ngỏ và chúng tôi sẽ khai phá bằng  Neffos C5 Series. Đây sẽ là tiền đề tốt để TP-Link hoàn thiện hệ sinh thái thông minh riêng cho người dùng, đem đến cơ hội trải nghiệm đời sống công nghệ cho tất cả mọi người", đại diện TP-Link chia sẻ.

Công nghệ khởi sắc từ cuộc đua Apple - Google

Việc Apple cạnh tranh cùng với Google sẽ thúc đẩy nền công nghệ thế giới phát triển hơn nữa trong tương lai, trên cả lĩnh vực phần cứng lẫn phần mềm.
cong-nghe-khoi-sac-tu-cuoc-dua-apple-google
Cuộc chạy đua giữa Apple và Google hứa hẹn sẽ tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng, góp phần lớn vào sự phát triển của công nghệ trong tương lai.
Apple và Google hiện là hai hãng công nghệ hàng đầu thế giới. Trước đây, Google tập trung chủ yếu cho mảng tìm kiếm và các dịch vụ trực tuyến, trong khi Apple mạnh về các thiết bị phần cứng. Tuy nhiên, khi đã đứng đầu (hoặc chiếm thị phần lớn) với các sản phẩm mình kinh doanh, cả hai chuyển sang những thứ mới mẻ hơn, tạo nên cuộc đua kỳ thú ở lĩnh vực công nghệ.
Theo The Verge, điều này sẽ giúp công nghệ phát triển hơn nữa trong tương lai, và lợi ích cao nhất vẫn dành cho người dùng, bởi cả hai đều là "đại gia" của thế giới công nghệ.
Sự kiện Google I/O 2016 vừa kết thúc tại Mountain View, California (Mỹ) đã chứng kiến sự ra mắt của hàng loạt sản phẩm, dự án mới. Có thể kể đến Google Home, thiết bị nhỏ nhắn có thể hoạt động như một trợ lý gia đình thông minh và cạnh tranh trực tiếp với Echo của Amazon; Google Allo, ứng dụng nhắn tin cạnh tranh với WhatsApp, sử dụng công nghệ mã hóa tương tự như phần mềm của Facebook; Google Duo sẽ đối trọng với FaceTime của Apple…
Trong khi đó, Apple đang tiếp tục mở rộng số thiết bị của mình thay vì gói gọn ở MacBook, iMac, iPad và iPhone, đồng thời học hỏi các hãng công nghệ khác để tạo ra sản phẩm mới, như iPad Pro với bút cảm ứng Apple Pencil - một sự "tiếp thu" từ Surface của Microsoft; hay công nghệ Touch 3D áp dụng trên iPhone 6s từng có trước trên Huawei Mate S (dù trước đó đã được Apple sử dụng trên bàn rê máy tính MacBook và màn hình cảm ứng Apple Watch dưới tên gọi Force Touch)...
Về hệ điều hành, tính năng mới dễ thấy nhất trên cả iOS và Android là khả năng đa nhiệm, chia màn hình thành dạng cửa sổ, cải thiện khả năng thông báo và có thể trả lời nhanh các thông báo mà không cần phải truy cập trực tiếp vào ứng dụng. Bên cạnh đó, cả hai dù đua tranh nhưng đang dần học hỏi lẫn nhau, như Apple cho phép các nhà phát triển can thiệp sâu hơn vào hệ thống nhằm tiếp cận các chức năng cốt lõi của iOS (gồm cả việc tích hợp bàn phím từ bên thứ ba), trong khi đội ngũ kỹ sư của Google cũng làm việc cật lực để mang khả năng tối ưu điện năng tiêu thụ và quản lý tài nguyên giống như trên iPhone lên Android.
Liệu cuộc đua này có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của công nghệ thế giới? Tất nhiên không, trái lại người dùng nên mừng vì điều đó. Mỗi khi Apple và Google xảy ra sự cạnh tranh, một hệ sinh thái nào đó mới hơn, tân tiến hơn sẽ ra đời.
Còn với các công ty khác? Họ có thể vượt qua "cái bóng" của Apple và Google? Có lẽ hiện tại thì chưa, nhưng sự có mặt của họ đang góp phần thúc đẩy các sản phẩm của hai ông lớn càng thêm hoàn thiện, đổi mới. Giới công nghệ cũng nên vui mừng trước thành công từ Spotify, Twitter, Snapchat ở lĩnh vực truyền thông xã hội, hoặc Pebble, một thương hiệu smartwatch ưa chuộng, bởi các công ty này nhỏ nhưng đã khiến Google và Apple phải dè chừng, từ đó phát triển sản phẩm của mình tốt hơn.
Apple và Google vẫn đang đứng trên đỉnh cao danh vọng, nhưng không có gì là mãi mãi. Trong quá khứ, Nokia hay BlackBerry từng ngủ quên trên chiến thắng và tất nhiên, cả hai đều không hề muốn điều đó lặp lại với mình. Thế nên, họ phải có hướng đi mới, và lĩnh vực Thực tế ảo và Trí tuệ nhân tạo đang được cả hai theo đuổi, dù Apple âm thầm hơn, không rầm rộ như Google.
Khi mà hai đối thủ lớn nhất là Samsung đang loay hoay với bài toán thị phần điện thoại thông minh và Microsoft đang tìm hướng đi cho Windows cũng như phát triển dòng máy tính bảng Surface, thì cuộc đua Apple - Google vẫn sẽ rất hấp dẫn trong thời gian tới. Và trên đường đua, sẽ có rất nhiều sản phẩm mới ra đời.

Tận mắt chứng kiến kế hoạch xây dựng "quốc gia thông minh" của Singapore


Tận mắt chứng kiến kế hoạch xây dựng "quốc gia thông minh" của Singapore


Trên khắp quốc đảo Singapore sẽ có những cảm biến thu thập dữ liệu để từ đó xây dựng các dịch vụ cung cấp cho người dân cũng như ứng phó với thảm họa tốt hơn.


Tuesday, May 24, 2016

Xin chào "JARVIS" của lĩnh vực y tế, thứ đã, đang và sẽ tiếp tục cứu giúp loài người

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng trầm trồ thán phục khi diện kiến trí tuệ nhân tạo siêu việt tích hợp trong bộ giáp của Iron Man với khả năng nhận thức phi thường trên hầu hết mọi lĩnh vực. Đó là trên phim ảnh, vậy thực tế ra sao? Các nhà khoa học Singapore cùng hệ thống AI của họ sẽ khiến chúng ta bất ngờ.

Một trong những vấn đề chính yếu cần phải hiểu trước tiên, đó là phát triển vaccine không chỉ đồng nghĩa với việc cống hiến, nghiên cứu trong một thời gian dài, mà còn phụ thuộc vào cả may mắn nữa. Các nhà khoa học sẽ bắt đầu từ những loại thuốc, dù hiệu quả ít hay nhiều, có thể tác động đến virus, và tất nhiên, có một mối quan hệ mật thiết với mục đích chữa trị. Tất cả những yếu tố đó, cộng thêm cả một quá trình làm việc không biết mệt mỏi, thất bại rồi sửa chữa liên tục, cho tới khi họ có thể tìm ra phương thuốc cuối cùng.
Tuy nhiên, một trong những khám phá thú vị, bất ngờ nhất trong lĩnh vực y tế hiện nay đó là ảnh hưởng của công nghệ, máy móc có thể giúp ích trong việc xúc tiến, rút ngắn khoảng thời gian tìm kiếm đó. Quả thật, viễn cảnh đó không còn ở trong trí tưởng tượng nữa: Trong một nghiên cứu được công bố vào thứ Tư tuần trước trên thời báo Macromolecules, nhóm các nhà khoa học đến từ IBM và Học viện Công nghệ Vi sinh Singapore đã có một khám phá mang tính cách mạng trong vấn đề đối phó với những virus lây lan nguy hiểm.
Với sự trợ giúp từ siêu máy tính Watson đến từ tập đoàn công nghệ đa quốc gia này, họ hy vọng phát kiến này sẽ ngày một vươn xa, phát triển rộng rãi, nâng cao hơn nữa, ứng dụng vào nghiên cứu chế tạo vaccine.
Virus Ebola
Virus Ebola
Cụ thể, ban đầu những nhà phân tích tham gia trực tiếp cho biết rằng họ đã nhận dạng được một loại đại phân tử có khả năng chống chọi lại những nhân tố gây bệnh có thể lây lan, nhân bản, và thậm chí cả kháng thuốc. Chẳng hạn, Zika và Ebola là những loại virus đặc biệt khó kiểm soát và chữa trị vì ngày càng xuất hiện nhiều biến thể, đồng nghĩa với việc một loại vaccine là không đủ để đương đầu với toàn bộ đặc tính tiến hóa liên tục đó.
Tuy nhiên, đại phân tử được khám phá mới đây lại có một “quyền hạn” to lớn, cho phép quy trình thiết lập phòng thủ trước virus trở nên hiệu quả hơn, kết hợp với các cơ quan miễn dịch chiến đấu lại virus, đồng thời tự “hy sinh” tế bào bị nhiễm bệnh trước đó bằng việc khiến môi trường nội bào không đủ điều kiện tương thích để lây lan, nhân bản. Những thử nghiệm ban đầu cho thấy virus Ebola, sốt xuất huyết, cúm, sốt rét, virus đường ruột và Herpes đều bị ảnh hưởng bởi cơ chế này.
Bên cạnh đó, theo như chia sẻ của đội ngũ nghiên cứu, chỉ cần thêm một thời gian ngắn họ có thể ứng dụng đột phá này trong việc phát triển một loại thuốc kháng virus đặc biệt, thanh tẩy tế bào bị nhiễm bệnh. Xa hơn nữa, các nhà khoa học mong muốn phương thuốc này có thể trở thành tương lai của lĩnh vực chế xuất vaccine triệt để đối với những nguy cơ dịch bệnh lây lan tiềm tàng trên thế giới.
Nghe có vẻ vô cùng hứa hẹn, nhưng bấy nhiêu chưa thật sự ăn nhằm gì. Và đó là lúc Watson - “nhân tố bí ẩn” tham gia cuộc chơi.
Vài năm trở lại đây, giới chuyên gia đã bắt tay vào phân tích những nghiên cứu liên quan tới việc ứng dụng Watson vào công cuộc chế tạo thuốc và những thử nghiệm y tế. Hơn thế nữa, Watson cũng tỏ ra vô dùng hữu ích trong việc trợ giúp các bác sỹ tìm kiếm những phương cách điều trị hợp lý nhất cho các ứng viên, đảm bảo họ có đủ điều kiện tham gia và vượt qua thử nghiệm, vốn đã được tính toán kỹ lưỡng trước đó. Điều này thoạt tiên có lẽ chưa có gì to lớn, đáng kể, nhưng thực sự, việc phân tích ứng viên sao cho phù hợp, ít rủi ro nhất trước khi bước vào thử nghiệm là một công đoạn đầy áp lực trong lĩnh vực này.
Ngoài ra, Watson cũng tỏ ra là một cánh tay phải không thể bị thay thế khi chứng minh khả năng siêu việt của mình bằng cách sàng lọc dữ liệu về hàng triệu bài báo cũng như bằng sáng chế trên thế giới, khai thác mọi thông tin về những hợp chất hứa hẹn về một tương lai tươi sáng cho sự thành công của loại vaccine mới. Cụ thể hơn, với những kết quả trên, các nhà khoa học có thể dễ dàng tìm ra thành phần cần thiết cho việc phát triển phương thuốc của mình, đẩy mạnh quá trình chế xuất và ứng dụng thực tế.
“Cứu người như cứu hỏa”! Chưa bao giờ tốc độ lại đóng vai trò quan trọng đến thế, nhất là thời đại ngày nay với hàng loạt những mối dịch bệnh nguy hiểm chực chờ trỗi dậy reo rắc kinh hoàng, như sự kiện gần đây nhất về virus Zika bùng phát tại Brazil. Với sự trợ giúp từ Watson, có lẽ, dù sớm hay muộn, một ngày nào đó loài người sẽ có thể tự cứu mình khỏi nguy cơ lấp ló đứng trên bờ vực như hiện nay.
Tham khảo: Fusion.net

Monday, May 23, 2016

Công bố chấn động của Google sẽ làm Intel phải "khóc thét"

Điều Intel không mong muốn nhất đã xảy ra: Google đang tự chế tạo chip máy tính của riêng mình.

Google vừa làm chấn động làng công nghệ khi tiết lộ, hãng đang thiết kế một loại chip để vận hành tương lai của đế chế Internet hùng mạnh của mình: trí tuệ nhân tạo (AI). Với việc tự chế tạo chip, Google đang tiếp nối truyền thống làm đảo lộn ngành công nghệ của mình. Trong một thập kỷ qua, Google đã thiết kế mọi loại phần cứng mới cho các trung tâm dữ liệu khổng lồ của hãng, bao gồm máy chủ, thiết bị kết nối, và nhiều thứ khác.
Khi Google tạo ra các dịch vụ ở quy mô và tầm vóc chưa từng có tiền lệ, công ty này cần một loại phần cứng hiệu suất hơn để vận hành các dịch vụ trên. Trong những năm qua, nhiều gã khổng lồ Internet khác cũng đã theo gương Google và làm thay đổi sâu sắc thị trường phần cứng toàn cầu.
Mục tiêu mà Google kỳ vọng với loại chip trên là hiệu suất vượt trội. Để đưa AI lên một tầm cao mới, Google cần một loại chip có thể làm được nhiều hơn trong khoảng thời thời gian ngắn hơn và tiêu thụ ít điện năng hơn. Nhưng, ảnh hưởng của loại chip này sẽ vượt ra ngoài biên giới của đế chế Google.
Nó đe dọa tương lai của các nhà sản xuất chip như Intel và nVidia, đặc biệt là khi xét đến tầm nhìn tương lai của Google. Theo Urs Hölzle, người phụ trách mạng lưới trung tâm dữ liệu toàn cầu của Google, loại chip mới này chỉ là bước khởi đầu trong chiến lược phát triển phần cứng của hãng.
Nhưng Google sẽ không bán loại chip này cho các công ty khác. Họ sẽ không cạnh tranh trực tiếp với Intel hoặc nVidia. Nhưng, với các trung tâm dữ liệu khổng lồ của mình, cho đến nay Google là khách hàng tiềm năng lớn nhất của cả hai công ty trên. Trong khi đó, khi ngày càng nhiều các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ điện toán đám mây được cung cấp bởi Google, họ sẽ mua ngày càng ít máy chủ (kèm theo đó là chip). Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu của các nhà sản xuất chip như Intel.
Quả thực, Google muốn dùng loại chip mới để thúc đẩy dịch vụ đám mây, cho phép các doanh nghiệp và lập trình viên khai thác công cụ AI của hãng để phát triển các ứng dụng. Khi Google bán dịch vụ cho các công ty khác dựa trên nền tảng AI, họ muốn cho thấy mình đang sở hữu phần cứng tốt nhất để chạy các AI này, phần cứng mà không công ty nào có được.
Google cần tốc độ
Loại chip mới của Google được gọi là bộ xử lý Tensor (TPU). Đó là vì loại chip này được dùng để chạy TensorFlow, phần mềm điều khiển mạng nơ-ron sâu của Google. Đây là một chương trình học sâu (deep learning), có khả năng học hỏi những nhiệm vụ cụ thể bằng cách phân tích các tập dữ liệu khổng lồ. Các gã khổng lồ công nghệ khác thường chạy mạng nơ-ron sâu bằng bộ xử lý đồ họa (GPU).
Đây là những con chip ban đầu được thiết kế để xử lý hình ảnh cho game và các ứng dụng nặng về đồ họa khác. GPU là loại chip phù hợp cho việc thực hiện các tính toán trong mạng nơ-ron sâu. Nhưng Google cho biết hãng đã phát triển một loại chip có hiệu suất cao hơn. Google đã phát triển TPU dành riêng cho AI sao cho nó cần ít transistor hơn khi hoạt động. Điều này có nghĩa là nó có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ hơn trong cùng một khoảng thời gian so với chip bình thường.
Hiện nay, Google đang sử dụng cả TPU và GPU để chạy các mạng nơ-ron. Hölzle từ chối tiết lộ chi tiết về cách sử dụng TPU của Google, ngoại trừ việc họ sẽ dùng con chip này cho nhiệm vụ nhận diện giọng nói trên điện thoại Android. Ông cho biết thêm Google sẽ tiếp tục thiết kế các con chip mới chuyên dùng cho học sâu. Có vẻ như về lâu dài, động thái này của Google sẽ làm GPU hết đất dụng võ. GPU quá phổ thông cho chương trình học sâu. Loại chip này chưa đủ mạnh để phát triển AI”, Hölzle nói.
Đây không phải là điều nVidia muốn thấy. Là hãng chế tạo GPU lớn nhất thế giới, nVidia đang cố gắng mở rộng thị trường sang lĩnh vực AI. Như Hölzle đã chỉ ra, GPU mới nhất của nVidia được thiết kế dành riêng cho chương trình học sâu. Nhưng rõ ràng là Google muốn loại chip có hiệu suất cao hơn rất nhiều.
Trong khi đó, các công ty khác, đặc biệt là Microsoft, đang phát triển một dòng chip gọi là FPGA. Đây là một loại chip có thể tái lập trình để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Microsoft đã thử nghiệm FPGA với học sâu và Intel gần đây đã mua một công ty chế tạo FPGA.
Một số chuyên gia cho rằng đây là con đường thông minh hơn. Patrick Moorhead , chủ tịch của Moor Insights & Strategy, một công ty chuyên nghiên cứu thị trường chip cho biết, FPGA có tính linh hoạt cao hơn TPU. Moorhead cho rằng chip TPU mới của Google là quá tham vọng, và cần phải mất ít nhất 6 tháng để phát triển. Đây là một khoảng thời gian dài trong một thị trường cực kỳ cạnh tranh, với sự tham gia của các công ty Internet sừng sỏ nhất.
Nhưng Google không cần sự linh hoạt đó. Cái họ cần nhất là tốc độ xử lý của con chip. Khi được hỏi tại sao Google lại phát triển con chip từ đầu thay vì sử dụng FPGA, Hölzle nói: “Con chip này có tốc độ nhanh hơn nhiều”.
Nỗi lo của Intel
Hölzle cũng chỉ ra rằng con chip của Google sẽ không thay thế bộ xử lý trung tâm (CPU), trái tim của mọi máy chủ máy tính. Gã khổng lồ tìm kiếm này vẫn cần những con chip trên để chạy hàng chục nghìn thiết bị ở các trung tâm dữ liệu của mình, và CPU là lĩnh vực kinh doanh chính của Intel. Nhiều chuyên gia cho rằng nếu Google đã tự chế tạo chip cho AI, hãng này hẳn đã phát triển CPU rồi.
Hölzle đã bác bỏ khả năng này. “Chúng ta thường chỉ muốn giải quyết những vấn đề chưa có lời giải”, ông nói. CPU là một công nghệ đã hoàn thiện và khó có thêm đột phá. Nhưng ông cho biết Google muốn cạnh tranh lành mạnh trên thị trường chip. Nói cách khác, hãng này muốn mua chip từ nhiều nhà cung cấp chứ không chỉ riêng mình Intel. Suy cho cùng, tính cạnh tranh của thị trường càng cao, giá sản phẩm sẽ càng rẻ cho Google. Đó là lý do tại sao Google đang hợp tác với OpenPower Foundation, một nhà cung cấp thiết kế chip mà bất cứ ai cũng có thể sử dụng và thay đổi chúng.
Đó là một ý tưởng táo bạo, và là mối đe dọa tiềm tàng cho các hãng sản xuất chip lớn trên thế giới. Theo Shane Rau, một chuyên gia phân tích của công ty nghiên cứu IDC, Google mua khoảng 5% tổng CPU máy chủ được bán trên toàn thế giới. Trong một năm qua, Google đã mua khoảng 1,2 triệu con chip. Và hầu hết trong số này đến từ Intel. Phó chủ tịch của Intel, Diane Bryant cho biết trong năm 2012, Google mua chip máy chủ từ Intel nhiều hơn bất cứ nhà cung cấp nào khác.
Bất kể kế hoạch với CPU là gì, Google vẫn sẽ tiếp tục phát triển các con chip dành riêng cho AI. Sẽ mất vài năm nữa để chúng ta biết Google có thành công hay không. Suy cho cùng, AI cũng đang liên tục tiến hóa. “Thế giới công nghệ luôn biến đổi không ngừng. Đến tôi cũng không biết câu trả lời cuối cùng cho vấn đề này là gì”, ông nói. Nhưng dù gì đi nữa, các nhà sản xuất chip sẽ là người cảm thấy lo sợ nhất trước kế hoạch của Google.
Tham khảo: wired.com

3 dự đoán tương lai hợp lý nhất về trí tuệ nhân tạo, không nhuốm màu hủy diệt

Khi tầm ảnh hưởng của AI ngày càng rộng khắp thì khả năng chúng ta hiểu được những ảnh hưởng này càng hạn chế. Bài viết này sẽ đi vào giải thích hiện tượng này cũng như đưa ra các dự đoán về tương lai của AI.

Công nghệ AI (trí tuệ nhân tạo) đang dần dần trở nên vô hình trước mắt chúng ta và ngược lại. Chính xác thì những ảnh hưởng và hoạt động của AI đang ngày càng trở nên khó nhận biết hơn với con người. Ngay cả các chuyên gia cũng không phải lúc nào cũng hiểu rõ hệ thống AI vận hành ra sao.
Trên thực tế thì khi tầm ảnh hưởng của AI ngày càng rộng khắp thì khả năng chúng ta hiểu được những ảnh hưởng này càng hạn chế. Bài viết này sẽ đi vào giải thích hiện tượng này cũng như đưa ra các dự đoán về tương lai của AI.
1. AI sẽ thay đổi cách chúng ta định nghĩa về "trí tuệ"
Trong tương lai, AI sẽ trở nên vô hình và khiến con người không thể phân biệt hay hiểu được.
Đầu tiên, AI không nhất thiết phải hiển hiện như một thứ có thể cầm nắm. AI có thể tồn tại dưới nhiều dạng thức như giao diện người dùng hay giọng nói. Chẳng phải chúng ta có thể hoàn toàn tin vào các bản nhạc Spotify gợi ý hay trò chuyện với Siri, Alexa một cách thoải mái như những sinh thể sống sao? Đây cũng chính là những ví dụ cho thấy “trí tuệ” không nhất thiết phải là một thực thể có thể cầm nắm.
Thứ hai, AI sẽ trở nên vô hình sau khi trải qua phép thử Turing (bài kiểm tra khả năng trí tuệ của máy tính) hay các phép thử tương tự khác. Một hệ thống trí tuệ nhân tạo cố gắng mô phỏng các hoạt động giao tiếp, nhận thức cũng như cảm xúc của con người có thể làm mờ ranh giới giữa người với chúng đến mức không thể phân biệt nổi. Và khi đó, thứ gọi là “trí tuệ nhân tạo” đối với chúng ta có vẻ sẽ không còn là “nhân tạo” nữa.
Thứ ba và cũng là quan trọng nhất, AI vô hình trong mắt chúng ta khi các chi tiết về ảnh hưởng cũng như cách vận hành của chúng vượt ngoài tầm hiểu biết của con người. Chúng ta có thể ý thức, cảm nhận được sự hiện hữu cũng như tác động của các hệ thống AI nhưng sẽ không còn hiểu được cặn kẽ những hệ thống đó vận hành ra sao, làm thế nào chúng đạt được mục tiêu hay những hệ quả sau cùng của chúng.
Điều này có nghĩa là công nghệ AI sẽ sớm vượt ra ngoài quy luật “bất cứ công nghệ nào khi tiến bộ đến một tầm cao cũng đều trở thành ma thuật" của Clarke.
2. AI sẽ trở nên không thể hiểu nổi
Theo đà này, chúng ta có thể vẫn sẽ nhận biết được sự tồn tại của AI quanh mình nhưng sẽ không còn có thể thấy chúng qua các giác quan nữa. Sự phát triển này có 2 đặc điểm:
Thứ nhất, hầu hết các thuật toán hệ thống cũng như những tiến bộ mới nhất trong công nghệ AI cũng đều giống như những chiếc hộp đen không thể mở ra, dò được hay kiểm soát được với hầu hết chúng ta.
Chính vì vậy mà thật khó để nói được các hệ thống AI sẽ thay đổi cuộc sống của chúng ta ra sao, từ việc gợi ý danh sách nhạc phù hợp hợp cho đến những điều khoản hợp đồng bảo hiểm được cá thể hóa hay các thuật toán giao dịch trên thị trường chứng khoán có thể thay đổi cục diện kinh tế toàn cầu. Chúng có thể tác động đến mọi mặt đời sống con người.
Cụ thể là các hệ thống AI sẽ ngày càng bện chặt vào các hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội,…và khiến chúng ta khó có thể chỉ rõ được ảnh hưởng chính xác của chúng.
Thứ hai, công nghệ AI đang trở nên ngày càng phức tạp đến mức không thể hiểu nổi thậm chí với cả các chuyên gia đã thiết kế và phát triển chúng. Trong cuốn sách “The Master Algorithm” gần đây của mình, chuyên gia về machine learning Pedro Domingos đã chỉ ra rằng từ những năm 1950, các nhà khoa học đã tạo ra những thuật toán có thể làm những việc chính con người cũng không hiểu được.
Xu hướng này hiện không có vẻ gì là sẽ thay đổi lộ trình, và trong tương lai, ngay cả các chuyên gia giàu kinh nghiệm cũng sẽ mất rất nhiều thời gian để theo kịp.
Hệ thống AI ngày nay đã có thể cung cấp những thông tin, tri thức quan trọng trong đủ các lĩnh vực từ công nghệ cá thể hóa cho đến vật lý hạt, từ những công thức nấu ăn cho đến ngón chơi lạ lùng trong các tựa game, từ phòng chống tội phạm cho đến công nghệ sinh học. Cụ thể là các hệ thống AI chuyên biệt có thể giúp nâng cao hiệu quả các công trình nghiên cứu sinh học hay giúp bạn chọn quãng đi thuận tiện nhất đến một buổi gặp mặt.
Khi các hệ thống AI càng trở nên tinh vi, phổ cập bao nhiêu thì con người càng khó hiểu được cơ chế vận hành của chúng bấy nhiêu. Và hơn thế nữa, một khi các hệ thống AI có thể tự học và tự điều khiển nhanh hơn con người, điều tất yếu xảy ra chúng sẽ làm lu mờ con người mãi mãi. Cuối cùng thì các hệ thống AI sẽ trở thành các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực của chúng và còn có thể dự đoán tương lai của mình tốt hơn cả con người.
Chính vì vậy mà các hệ thống AI phức tạp có thể đưa ra các thông tin chính xác và hữu ích dựa trên một chuỗi tương tác con người không thể nào theo kịp, dù có là các chuyên gia đích thực. Nếu kịch bản này xảy ra, liệu chúng ta còn có thể làm việc hiệu quả mà không có AI trợ giúp không?
3. AI sẽ trở nên đồng nhất với trí tuệ con người
Cũng như bất cứ công nghệ nào trước đó, AI đã tiến hóa từ sự tò mò đơn thuần sang những khả năng choáng ngợp. Kết cục là trong tương lai, những thứ đáng giá nhất thế giới sẽ là những hệ thống AI cao cấp không ai có thể hiểu hay điều khiển được.
Cùng lúc đó, AI cũng sẽ chuyển sang thành một hiện tượng chưa từng có, ảnh hưởng đến cả cách chúng ta đánh giá hay định nghĩa về “trí tuệ”. Theo hướng này thì trí tuệ con người sẽ sớm không còn là chuẩn mực để đánh giá độ thông minh nữa.
Ngày nay, trí tuệ con người đang định hình cho AI và ngược lại, AI cũng đang ngày càng định hình lại trí tuệ con người. Khi tầm ảnh hưởng của AI tăng lên, con người cũng cần phải hiểu được cách thức vận hành của chúng. Và để làm được điều này, chúng ta cần gia tăng trí tuệ của chính mình để tương tác được với các bộ phận trong hệ thống AI về lâu về dài.
Thứ nhất, việc con người phải tự làm mình thông minh lên là điều tất yếu, đặc biệt là các nhà nghiên cứu, các kỹ sư cũng như các nhà thiết kế hệ thống để theo kịp được hệ thống AI họ phát triển. Ngoài các công cụ hay chiến lược tốt hơn, các nhóm nghiên cứu tập hợp nhiều nhà khoa học trong các lĩnh vực khác nhau cũng giúp cho việc hiểu rõ cách thức vận hành của các hệ thống AI trở nên dễ dàng hơn.
Thứ hai, AI nên được đưa vào giúp càng nhiều người càng tốt. Ví dụ như các game giáo dục có thể giúp trẻ em học về lập trình hay robot, giúp chúng làm quen với các hệ thống trí tuệ nhận tạo ngay từ nhỏ. Những hệ thống như Algorithmic Angels có thể giúp con người hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động cũng như tác động của AI trong đời sống hàng ngày cũng như đưa ra quyết định chính xác hơn.
Những chiếc hộp đen bí ẩn của AI có thể được mở ra và đưa vào ứng dụng giúp con người cộng tác, làm việc cùng nhau dễ dàng hơn. “Dân chủ hóa” AI có thể giúp mọi người thiết kế và phát triển nhiều sản phẩm mới cho các hệ thống AI. Cũng như việc ngày nay chúng ta coi lập trình hay các kỹ năng sử dụng máy tính là thứ bắt buộc phải biết, trong tương lai những am hiểu và khả năng tác động vào hệ thống AI cũng sẽ là hành trang không thể thiếu của con người hiện đại.
Theo hướng này, công nghệ AI có thể tiến hóa thành một nền tảng giống như Internet, cho phép chúng ta quyết định cách chúng được sử dụng hay thiết kế, phát triển nó đi xa nữa. Việc hạ tầng AI cùng với IoT mở ra cánh cửa mới cho các nhà phát triển và các chuyên gia cũng sẽ có tác động lớn đến cách chúng ta hiểu và tương tác với các hệ thống thông minh nói chung. Và con người sẽ hòa làm một với máy móc một cách vô hình.
Ranh giới giữa các thực thể số và thực thể hữu hình sẽ dần bị xóa nhòa. Khi mối quan hệ giữa con người với các hệ thống AI ngày càng khăng khít, ranh giới giữa trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo cũng sẽ tan biến. Và đó cũng là khi từ “nhân tạo” mất đi ý nghĩa thực của nó.
Tham khảo Techcrunch

Trí tuệ nhân tạo vừa thực hiện lại được thí nghiệm đoạt giải Nobel

Sau thành công này, nhóm nghiên cứu tiếp tục phát triển một phiên bản còn lớn hơn nữa.

Chúng ta đã được thấy trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence - AI) thực hiện thí nghiệm lượng tử một cách dễ dàng và giờ đây, cỗ máy biết học này đang tiếp tục thực hiện các thí nghiệm ở những lĩnh vực khác.
Một nhóm các nhà nghiên cứu từ các trường Đại học Quốc gia Úc, Đại học Adelaide và Học viện Lực lượng Quốc phòng Úc (thuộc Đại học New South Wales) đã sử dụng một thuật toán để tái tạo lại thí nghiệm từng đoạt giải Nobel - đây chính là thí nghiệm đã tạo ra ngưng tụ Bose-Einstein. Trong điều kiện đơn giản, các nhà vật lý đã tạo ra một luồng khí cực lạnh (cỡ 1 microkelvin, thấp hơn cả một phần tỷ của nhiệt độ trên không tuyệt đối), sau đó, họ để trí thông minh nhân tạo thực thi phần còn lại của thí nghiệm.
Phòng thí nghiệm tại Đại học Quốc gia Úc
Phòng thí nghiệm tại Đại học Quốc gia Úc
Từ đó, trí tuệ nhân tạo sẽ phải học cách thay đổi các thông số khác nhau để điều chỉnh nhiệt độ xuống thấp hơn nữa, đồng thời làm tăng tính hiệu quả của thí nghiệm. Trí thông minh nhân tạo đã làm được điều này bằng cách điều chỉnh bộ ba chùm tia laser. Các nhà khoa học cho biết: Kết quả thu được khá ấn tượng, trí tuệ nhân tạo đã tự làm thí nghiệm trong khoảng 1 giờ đồng hồ và phương pháp mà AI thực hiện thậm chí còn vượt xa những gì mà các nhà khoa học đã dạy nó. Nhóm nghiên cứu cho biết rằng Al có thể tự lập trình công việc cho mình vào mỗi buổi sáng và còn có thể chỉnh sửa lại những thay đổi đã xảy ra trong quá trình thử nghiệm đêm hôm trước.
Nếu bạn muốn đích thân kiểm chứng thì có thể tham khảo tải thuật toán mà các nhà khoa học đã tải lên GitHub. Thuật toán này có thể được sử dụng cho khoa học lượng tử, điện toán lượng tử và chuyên ngành vật lý femtosecond.
Kế hoạch tiếp theo của nhóm nghiên cứu sẽ là sử dụng trí tuệ nhân tạo để xây dựng ngưng tụ Bose-Einstein với quy mô lớn hơn, nhanh hơn những gì mà chúng ta đã từng thấy trước kia.